Những lợi ích từ việc ứng dụng các kỹ thuật hạt nhân trong chương trình chăn nuôi bò sữa ở Myanmar10:25:00 30/05/2017

Nhờ  vào những chuyển biến tích cực của nền kinh tế trong vài năm qua, sức tiêu dùng của người dân Myanmar ngày càng tăng đã khiến nhu cầu tiêu thụ về các sản phẩm động vật gia tăng, bao gồm cả sữa. Nhằm đảm bảo đáp ứng yêu cầu của người dân, Chính phủ Myanmar đã đưa ra những biện pháp ưu tiên nhằm hỗ trợ việc chăn nuôi bò sữa và gia tăng số lượng đàn bò lên đáng kể, vượt con số 500.000 con hiện nay.

Chất lượng đàn bò sữa ở Myanmar được nâng cao nhờ vào việc ứng dụng kỹ thuật hạt nhân (Ảnh: IAEA)

Nhờ  vào những chuyển biến tích cực của nền kinh tế trong vài năm qua, sức tiêu dùng của người dân Myanmar ngày càng tăng đã khiến nhu cầu tiêu thụ về các sản phẩm động vật gia tăng, bao gồm cả sữa. Nhằm đảm bảo đáp ứng yêu cầu của người dân, Chính phủ Myanmar đã đưa ra những biện pháp ưu tiên nhằm hỗ trợ việc chăn nuôi bò sữa và gia tăng số lượng đàn bò lên đáng kể, vượt con số 500.000 con hiện nay.

Để tăng sản lượng sữa một cách bền vững, việc cải thiện phẩm chất con giống bản địa thông qua lựa chọn di truyền cùng với khả năng miễn dịch bệnh tật của đàn gia súc trở nên đặc biệt quan trọng. Được sự hỗ trợ của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) và Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), Cục Thú y và Chăn nuôi Myanmar đã tổ chức triển khai thực hiện việc đưa ứng dụng kỹ thuật hạt nhân vào trong quy trình lựa chọn di truyền đối với đàn bò sữa. Các phòng thí nghiệm đã được IAEA và FAO hỗ trợ trang thiết bị, hỗ trợ công tác đào tạo và tư vấn thực hành nhằm sử dụng các kỹ thuật hạt nhân để có thể xác định đặc tính di truyền và sản xuất tinh dịch của gia súc, giúp sản sinh ra những đàn bò có phẩm chất tốt hơn.

Các kỹ thuật hạt nhân đã được áp dụng trong quy trình sinh sản nhân tạo đối với đàn bò sữa nhằm cải thiện chất lượng di truyền, nâng cao sản lượng sữa. Trong đó, kỹ thuật định lượng miễn dịch phóng xạ (Radioimmunoassay-RIA) sử dụng đồng vị phóng xạ I-125 giúp phân tích hàm lượng hormone trong sữa, máu và tinh dịch đàn bò với độ chính xác cao, hỗ trợ cải thiện kết quả của quá trình thụ tinh nhân tạo. Kỹ thuật chiếu xạ bằng nguồn Cobalt-60 được sử dụng để xây dựng các bảng lai tạo bức xạ trong việc lập bản đồ gen. Kỹ thuật đánh dấu đồng vị phóng xạ kết hợp sinh học phân tử được sử dụng để kiểm chứng chẩn đoán mang thai sớm.

Từ trước đến nay, đàn gia súc ở Myanmar, hầu hết là giống thuần chủng, được nuôi để lấy sức kéo phục vụ nông nghiệp nên năng suất sữa của chúng không cao. Nhờ sự trợ giúp của IAEA và FAO, các phòng thí nghiệm di truyền học đã có thể phân tích chất lượng giống và triển khai chương trình chăn nuôi bò cái có năng suất sữa tốt hơn. Năng lực sản xuất tinh dịch đông lạnh trên bò đực của phòng thí nghiệm đã tăng lên gấp 5 lần và hiện nay có khả năng cung cấp khoảng 32.000 lượt thụ tinh nhân tạo mỗi năm. Ngoài ra, Phòng thí nghiệm cũng đã phát triển được một ngân hàng gen với kho tinh trùng bò đực đông lạnh số lượng lớn.

Hiện tại, người nông dân chăn nuôi bò sữa quy mô nhỏ và các công ty thu mua sữa bò nhiều nơi ở Myanmar đang được hưởng lợi từ chương trình ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong cải tạo chất lượng đàn bò sữa. Việc chuyển sang sử dụng tinh trùng nhân tạo có chất lượng tốt để thụ tinh cho đàn bò đã giúp việc chăn nuôi bò sữa cho năng suất cao hơn, chi phí tiết kiệm hơn.

Thời gian tới, chương trình này sẽ tiếp tục được triển khai đến các vùng sâu vùng xa, nơi chưa được tiếp cận với khoa học công nghệ, bằng việc xây dựng thêm các phòng thí nghiệm tương tự, do các bước trong quy trình thực hiện cần phải có cơ sở vật chất đầy đủ, chẳng hạn như việc xử lý tinh dịch đông lạnh của đàn bò cần nito lỏng và môi trường nhiệt độ rất thấp.

Sản lượng sữa của đàn bò được sinh ra từ phương pháp thụ tinh nhân tạo cung cấp hơn 45% sữa so với thông thường (Ảnh: IAEA)

 

Bên cạnh việc cải thiện năng suất, chất lượng đàn bò sữa, các phòng thí nghiệm thú y của Myanmar còn được IAEA và FAO hỗ trợ trong việc phát hiện sớm vi-rut gây bệnh trên đàn bò như bệnh lở mồm long móng bằng việc ứng dụng những kỹ thuật hạt nhân khác.

Dịch bệnh lở mồm long móng là một trong những nguyên nhân có nguy cơ đe doạ đến khoảng 15 triệu gia súc, cừu và dê của Myanmar, trong khi quốc gia này đang phải đối mặt với tình trạng thiếu vắc-xin thì việc phát hiện sớm dịch bệnh bằng kỹ thuật hạt nhân là cách tốt nhất để kiểm soát dịch bệnh bùng phát.

Lở mồm long móng là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở lợn và đàn gia súc như  cừu, dê, hươu và các động vật nhai lại khác. Để bảo vệ đàn gia súc không bị nhiễm bệnh cần phải tiêm vắc-xin sáu tháng một lần, tuy nhiên, Myanmar chỉ có khả năng cung cấp 200.000 liều vắc-xin một năm. Các loại văc-xin này chỉ được sử dụng tại các ổ dịch lở mồm long móng, trong khi hệ thống giám sát dịch bệnh này do IAEA, FAO và Tổ chức Thú y thế giới (OIE) hỗ trợ thành lập không phải được đặt ở bất kỳ mọi nơi.

Thông thường, các bác sĩ thú y chỉ có thể phát hiện bệnh lở mồm long móng ở động vật thông qua các triệu chứng thể chất rõ ràng hoặc các xét nghiệm phức tạp. Tuy nhiên hiện tại, các công nghệ miễn dịch dẫn xuất hạt nhân kết hợp sinh học phân tử có thể được sử dụng để phát hiện sớm các vi-rút như lở mồm long móng và Myanmar đã được IAEA, FAO, OIE hỗ trợ về trang thiết bị và chuyên môn cho các phòng thí nghiệm thú y. Tại các phòng thí nghiệm, các chủng loại vi-rut lở mồm long móng xuất hiện trên động vật bị nhiễm bệnh cũng có thể được phân loại, qua đó xác định được loại vắc-xin thích hợp để sử dụng trên đàn gia súc chưa bị nhiễm bệnh trong cùng khu vực. Đồng thời, dựa trên kỹ thuật hạt nhân kết hợp sinh học phân tử, vắc-xin sẽ được sản xuất để ngăn chặn sự bùng phát của dịch bệnh.

Phương pháp định lượng miễn dịch phóng xạ (Radioimmunoassay - RIA) phân tích lượng hormone trong sữa, máu và các chất dịch của cơ thể sử dụng đồng vị phóng xạ Iodine-125 là kỹ thuật hạt nhân đã phát triển hoàn thiện và thường được thực hiện dễ dàng trong các phòng thí nghiệm phân tích. Phương pháp này là hỗ trợ duy nhất trong việc cải thiện các kết quả của dịch vụ thụ tinh nhân tạo. Một vài các bộ xét nghiệm miễn dịch liên kết với enzyme dẫn xuất từ hạt nhân (ELISA) đã được phát triển, sử dụng phương pháp RIA như một tiêu chuẩn và hiện đang được bán trên thị trường, ngoài ra còn có các bộ kit di động để kiểm tra chất lượng đàn bò.

Kỹ thuật chiếu xạ bằng nguồn cobalt-60 được sử dụng để xây dựng các bảng lai tạo bức xạ trong việc lập bản đồ bộ gen của vật nuôi. Các bản đồ lai tạo bức xạ độ phân giải cao giúp lắp ghép bộ gen bằng cách định vị chính xác các gen và các chỉ thị di truyền (genetic markers) dọc theo các nhiễm sắc thể. Hiện nay, bản đồ lai tạo bức xạ bộ gen độ phân giải cao đã được hoàn thành xây dựng đối với dê và đang được xây dựng đối với lạc đà.

Kỹ thuật đánh dấu đồng vị phóng xạ kết hợp sinh học phân tử được sử dụng để kiểm chứng chẩn đoán mang thai sớm ở các vật nuôi thuộc họ bò; các chuỗi acid nucleic mới được hiển thị nhờ kỹ thuật huỳnh quang sử dụng các nucleotides được đánh dấu bằng sulfur-35 hoặc phosphorus-33.

Vũ Thùy Vân, Trung tâm TT TVHN

Tổng hợp từ nguồn IAEA

Tin Tức khác
Google translate
Liên kết
  • Bộ Khoa học và Công nghệ
    Bộ Khoa học và Công nghệ
Thư viện ảnh
Đối tác
Media
Thống kê truy cập