IAEA giúp giảm thiểu ô nhiễm nhựa trong đại dương17:41:00 11/08/2017

Đại dương và sinh vật biển đang bị “bóp nghẹt” bởi rác thải nhựa. Khoảng 10% trong số 100 triệu tấn nhựa sản xuất mỗi năm trên thế giới nằm lại trong lòng đại dương. Đây là mối đe dọa đối với các loại động vật biển do ăn nhầm hoặc bị vướng vào rác thải nhựa. Đồng thời, khi ăn phải cá nhiễm độc, con người cũng bị nguy hiểm.

Đại dương cung cấp trên 50% lượng oxy, kiểm soát khí hậu và cung cấp thức ăn cho hàng tỷ người mỗi năm. Hệ sinh thái đại dương đang ngày càng bị đe dọa bởi rác thải nhựa. (Ảnh: Sửa từ Mstyslav Chernov / CC BY SA 3.0)

 

Đại dương và sinh vật biển đang bị “bóp nghẹt” bởi rác thải nhựa. Khoảng 10% trong số 100 triệu tấn nhựa sản xuất mỗi năm trên thế giới nằm lại trong lòng đại dương. Đây là mối đe dọa đối với các loại động vật biển do ăn nhầm hoặc bị vướng vào rác thải nhựa. Đồng thời, khi ăn phải cá nhiễm độc, con người cũng bị nguy hiểm.

Một trong các giải pháp để ngăn ngừa ô nhiễm rác thải nhựa là thay thế một số nhựa thường dùng bằng vật liệu phân huỷ sinh học. Thông qua các hoạt động nghiên cứu và đào tạo, Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) đang giúp các nước thành viên triển khai giải pháp này để giảm thiểu rác thải nhựa trên thế giới. Các chuyên gia IAEA giúp các nhà khoa học ứng dụng công nghệ bức xạ để chế tạo ra các chất dẻo phân hủy sinh học sử dụng các polyme có nguồn gốc từ thực vật và động vật.

Agnes Safrany, nhà hóa học phóng xạ tại IAEA, cho biết: “Dưới tác dụng của bức xạ, chitin-chitosan (một polymer thu được từ lớp vỏ tôm) chuyển thành dạng bột. Bột này được sử dụng để sản xuất màng bọc và nhựa có khả năng phân hủy an toàn trong môi trường".

Các polyme tự nhiên rất phong phú, từ vỏ tôm, cua, rong biển, xenlulô trong thực vật và cây đến tinh bột trong bánh mì. Đây là nguồn nguyên liệu sẵn có, rẻ tiền, có khả năng phân huỷ sinh học và tái sinh. Trong hơn 30 năm qua, IAEA đã và đang thúc đẩy việc xử lý chiếu xạ các polyme tự nhiên ở nhiều quốc gia.

Dưới tác dụng của bức xạ ion hóa, polyme tự nhiên thay đổi tính chất hóa học, vật lý và sinh học mà không bị nhiễm xạ, từ đó hình thành một loại nhựa an toàn, dẻo dai, độ bền cao, trong suốt và có khả năng thương mại hóa cao.

Các sản phẩm làm từ polyme tự nhiên được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, như y học, công nghiệp, bảo vệ môi trường, nông nghiệp và mỹ phẩm. Một ví dụ điển hình là các nhà khoa học Ai Cập đã sử dụng công nghệ mới để phát triển một loại vật liệu giống như thạch gọi là hydrogel từ polyme tự nhiên để đẩy nhanh khả năng phục hồi và chữa lành các vết thương do bỏng và viêm loét da. Một trong những ưu điểm của sản phẩm này là có thể dễ dàng lưu trữ và sử dụng.

Mặt khác, việc sử dụng các polyme tự nhiên hoặc polyme nguồn gốc tự nhiên thay thế các vật liệu nhân tạo góp phần cải thiện tình trạng ô nhiễm đại dương hiện nay.

Ở Việt Nam, các nhà khoa học đang sử dụng chitin và chitosan trong vỏ tôm để làm thuốc xịt và các chất phụ gia nhằm phòng ngừa, chữa bệnh và thúc đẩy sự tăng trưởng của cây trồng. Với các tác dụng nêu trên, các sản phẩm này đã được áp dụng rộng rãi trong ngành nông nghiệp, góp phần loại bỏ việc sử dụng thuốc diệt nấm độc hại trên cây trồng trên phạm vi toàn quốc. 

Chất kích kháng bệnh thực vật (plant elicitor) được Trung tâm Nghiên cứu và Triên khai Công nghệ bức xạ (VINAGAMMA) chế tạo bằng phương pháp chiếu xạ kết hợp với xử lý hóa học. Đây là chế phẩm có nguồn gốc tự nhiên từ chitosan mai mực và vỏ tôm, có hiệu ứng kích kháng bệnh cao đối với cây trồng, đặc biệt là đối với cây lúa và cây mía. 

Các polyme tự nhiên cũng được sử dụng trong ngành công nghiệp thực phẩm. Các nhà khoa học phát triển “màng bọc thực phẩm có thể ăn được” từ polyme tự nhiên để bảo quản sản phẩm. Bên cạnh đó, chúng còn được sử dụng để sản xuất các chất siêu hấp thụ nước giúp nông dân có thể ứng phó với biến đổi khí hậu. Với khả năng giữ được một lượng nước lớn, nhả nước chậm theo thời gian, chất siêu hấp thụ nước giúp cây trồng phát triển trong thời kì hạn hán. Các sản phẩm này có khả năng phân hủy sinh học, thân thiện với môi trường, góp phần giảm thiểu rác thải từ vật liệu nhân tạo.

Để tạo ra sản phẩm có khả năng phân hủy hiệu quả trong môi trường, các nhà khoa học cần phải làm chủ nhiều công đoạn. Thông qua các dự án nghiên cứu, các khóa bồi dưỡng, thực tập và tham quan khoa học, IAEA đã liên kết các quốc gia thành viên và đào tạo các nhà khoa học trong việc đo trọng lượng phân tử các polyme tự nhiên cũng như quá trình xử lý bức xạ.

Trần Thị Ngọc Diệp, Phòng Quản lý KH&CN hạt nhân

Tổng hợp từ https://www.iaea.org

Google translate
Liên kết
  • Bộ Khoa học và Công nghệ
    Bộ Khoa học và Công nghệ
Thư viện ảnh
Đối tác
Media
Thống kê truy cập