Thái Lan: sử dụng kỹ thuật đồng vị bền để cải thiện các chương trình về ghi nhãn thực phẩm và chế độ dinh dưỡng17:48:00 12/06/2018

Người tiêu dùng tại Băng Cốc, Thái Lan sẽ sớm được tiếp cận với các thông tin chính xác hơn về thành phần dinh dưỡng của các sản phẩm thực phẩm và các khuyến nghị về lượng dinh dưỡng tiêu thụ, một phần nhờ có các dữ liệu khoa học thu được khi sử dụng các kỹ thuật đồng vị bền. Đây là một trong những nỗ lực của Chính phủ Thái Lan nhằm sửa đổi Chế độ ăn uống tham khảo (DRIs), gồm những khuyến nghị về lượng dinh dưỡng tiêu thụ hàng ngày và loại thực phẩm phù hợp. Hoạt động này sẽ giúp bảo đảm các chính sách và chương trình về dinh dưỡng của quốc gia được dựa trên các dữ liệu đã được cập nhật.

“Thái Lan đã cập nhật DRIs khoảng 15 năm trước đây, tuy nhiên đến nay đã có thêm nhiều kết quả nghiên cứu khoa học về dinh dưỡng được đưa ra, công nghệ và phương pháp đã được cải tiến và chế độ dinh dưỡng cũng đã thay đổi” – Bà Emorn Udomkesmalee, Nghiên cứu viên cao cấp, cựu Giám đốc Viện Dinh dưỡng thuộc Đại học Mahidol tại Băng Cốc cho biết – “Chúng tôi hiện có những công cụ, chẳng hạn như kỹ thuật đồng vị bền, giúp chúng tôi có được hướng dẫn chính xác hơn về chế độ ăn uống cho người dân” .

Viện Dinh dưỡng đã hợp tác với Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) từ năm 1996. Đây là cơ quan đầu tiên của Thái Lan cung cấp các dịch vụ phân tích hoàn chỉnh cho việc ghi nhãn dinh dưỡng trên thực phẩm. Các nhà khoa học của Viện đã đi đầu về nghiên cứu phát triển DRIs của Thái Lan (từ năm 1989) và ghi nhãn dinh dưỡng thực phẩm (từ năm 1998). Hiện Viện đang sử dụng các kỹ thuật đồng vị bền và các phương pháp khác để thực hiện các nghiên cứu liên quan đến dinh dưỡng nhằm tạo cơ sở cho việc sửa đổi DRIs. Định mức DRIs mới dự kiến sẽ được đưa ra vào cuối năm 2018.

Kỹ thuật đồng vị bền giúp thu thập dữ liệu chính xác để thiết lập hướng dẫn về dinh dưỡng và thực phẩm

Các nhà khoa học sử dụng khối phổ so sánh tỉ lệ đồng vị để đánh giá các mẫu trong nghiên cứu dinh dưỡng liên quan đến vi chất dinh dưỡng tiêu thụ, thành phần cơ thể, chế độ cho con bú và nhu cầu năng lượng của cơ thể.

 Bà Udomkesmalee cho biết, khi xây dựng bất kỳ hướng dẫn nào về dinh dưỡng, sự chính xác là rất quan trọng bởi DRIs ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của con người, “khi thiết lập các hướng dẫn về chế độ ăn uống cho mọi người, cần đảm bảo đáp ứng các yêu cầu về dinh dưỡng và năng lượng cho các đối tượng ở mỗi độ tuổi và hoạt động nhất định.”

DRIs tác động tới tất cả những vấn đề liên quan đến dinh dưỡng của một quốc gia, từ việc ghi nhãn dinh dưỡng trên thực phẩm, các hướng dẫn về chế độ ăn uống, các chương trình về sức khỏe đến những nghiên cứu và phát triển về thực phẩm. Các hoạt động này được thực hiện dựa trên cơ sở dữ liệu của quốc gia và quốc tế liên quan đến nhu cầu hàng ngày của cơ thể con người bao gồm: năng lượng, Cacbon-hydrat, protein, chất béo, vitamin và khoáng chất.

DRIs là bộ tài liệu hướng dẫn khổng lồ được chia theo từng chất dinh dưỡng riêng biệt, mỗi phần lại được phân chia theo độ tuổi, giới tính và cả theo các nhóm đặc biệt bị ảnh hưởng nhiều bởi các khuyến nghị dinh dưỡng trong DRIs.

Khi xây dựng DRIs quốc gia, các nhà khoa học thường sử dụng các dữ liệu quốc tế đang được áp dụng cho người dân trên thế giới, tuy nhiên phương pháp này không phải lúc nào cũng lấy được chính xác dữ liệu phù hợp cho quốc gia đó - Bà Wantanee Kriengsinyos, Phó Giáo sư tại Viện Dinh dưỡng, người giám sát các nghiên cứu về tiêu hao năng lượng và thành phần cơ thể cho biết.

“15 năm trước, chúng tôi đã mượn dữ liệu DRI về năng lượng từ các quốc gia phương Tây để tham khảo, tuy nhiên chúng tôi nhận thấy rằng các mức dinh dưỡng này là quá cao so với người Thái Lan và người dân Châu Á nói chung. Nếu chúng ta tiếp tục sử dụng dữ liệu cũ và đi mượn này, cơ thể chúng ta sẽ trở nên to lớn gấp đôi bởi chế độ ăn quá giàu năng lượng”, Bà Kriengsinyos giải thích. “Chúng ta cần rà soát nhu cầu dinh dưỡng thực sự của một người dựa trên tiêu hao năng lượng của họ, chúng tôi đang sử dụng kỹ thuật đồng vị bền để xác định các thông số này”.

Thái Lan vừa tinh chỉnh các dữ liệu hiện có để đảm bảo DRIs phù hợp với đa số dân chúng, lại vừa phải thu thập dữ liệu cụ thể để giải quyết nhu cầu của các nhóm đối tượng cụ thể.

Bà Udomkesmalee giải thích một trường hợp ví dụ đối với nhóm người bị bệnh huyết sắc tố (hemoglobin). Đây là một khuyết tật di truyền gây ra quá tải sắt, gây ảnh hưởng tới khoảng 7% dân số thế giới và phổ biến nhất ở các quốc gia Châu Phi, lưu vực Địa Trung Hải và Đông Nam Á. Nếu 1/3 dân số ở phía Đông Nam Thái Lan bị bệnh này, chúng ta cần đặt ra câu hỏi: Liệu thực phẩm bổ sung sắt có gây hại cho họ hay không? Cách duy nhất để trả lời câu hỏi này là sử dụng các kỹ thuật đồng vị bền để nghiên cứu sự hấp thụ sắt.

Các nhà khoa học đã tìm ra rằng thực phẩm tăng cường sắt không phải là vấn đề trong việc vận chuyển của các gen hemoglobinopathy, tuy nhiên lại có thể là vấn đề đối với những người có bệnh này đang phát triển mạnh. Những kết quả của nghiên cứu này sẽ được đưa vào DRIs của Thái Lan.

Tác động đến vấn đề dinh dưỡng tại Đông Nam Á

Tài liệu DRIs sửa đổi của Thái Lan sẽ giúp định hình lại chế độ tiêu thụ thức phẩm trong nước; tuy nhiên những thay đổi này có thể có những tác động vượt ra ngoài lãnh thổ quốc gia.

Bà Udomkesmalee cho biết: “Chúng tôi đã rất cẩn thận khi rà soát DRIs. Nếu bạn có dự định tiến hành các thay đổi giống như vậy, đặc biệt là các quốc gia ASEAN, bạn không những sẽ ảnh hưởng đến DRIs của Thái Lan mà còn ảnh hưởng đến tất cả thực phẩm và sản phẩm xuất khẩu của Thái Lan. Nếu các DRIs về ghi nhãn dinh dưỡng khác biệt nhiều so với tiêu chuẩn của các quốc gia khác, họ sẽ không chấp nhận và điều này có thể ảnh hưởng đến ngoại thương”, “Vì vậy, DRIs sẽ được rà soát và kiểm tra cẩn thận để bảo đảm có được cơ sở khoa học vững chắc đồng thời phù hợp với các tiêu chuẩn trong khu vực.”

Ghi nhãn thực phẩm là một chính sách để đối phó với thực trạng tỉ lệ béo phì đang ngày càng tăng, vấn đề này sẽ được thảo luận trong một hội nghị chuyên đề quốc tế về gánh nặng kép suy dinh dưỡng sẽ được tổ chức từ ngày 10-13/12/2018 tại Vienna, CH Áo.

Nguyễn Thị Dịu, Phòng Chính sách NLNT

Nguồn: IAEA