Những tiến bộ của kỹ thuật xạ trị mở ra kỷ nguyên mới trong điều trị ung thư10:11:00 28/11/2018

Hơn 14 triệu người trên thế giới được chẩn đoán mắc ung thư mỗi năm và có khoảng một nửa số bệnh nhân ung thư được chỉ định sử dụng xạ trị trong quá trình điều trị. Xạ trị cũng thường được sử dụng kết hợp với các phương pháp khác như phẫu thuật hoặc hóa trị nhằm đem lại hiệu quả điều trị tối ưu hơn.

Một trường hợp ung thư gan được điều trị bằng kỹ thuật xạ trị lập thể định vị thân (SBRT).

Năm 1901 khi tia bức xạ lần đầu tiên được sử dụng trong điều trị ung thư đã khởi đầu cuộc cách mạng ứng dụng bức xạ trong y tế. Tuy nhiên, chính nhờ những phát triển về đổi mới kỹ thuật đã cho phép ứng dụng bức xạ trong y tế đạt được những phát triển vượt bậc. Thời gian gần đây, với những tiến bộ về vật lý, công nghệ và điện toán, liệu pháp bức xạ đang bước vào một kỷ nguyên mới với độ chính xác, hiệu quả và an toàn cao hơn nhiều lần trước đây. Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) đang hỗ trợ trong việc đảm bảo những tiến bộ trong xạ trị sẽ đến được với bệnh nhân ung thư ở mọi nơi trên thế giới.

Theo Bà May Abdel-Wahab, Giám đốc Ban Sức khỏe cộng đồng của IAEA, những tiến bộ mới trong xạ trị ung thư có thể cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân trong quá trình điều trị. Những tiến bộ mới này còn hiệu quả hơn đối với nhiều loại ung thư, tiêu diệt chính xác mục tiêu, giảm tái phát và tăng tỷ lệ sống của người bệnh. Ngoài ra, một số công nghệ mới như xạ phẫu lập thể định vị phân (SBRT) có thể kết hợp cùng các phương pháp điều trị miễn dịch mới. Nhiều nước đang phát triển hiện phải đối mặt với những thách thức trong việc theo kịp với sự phát triển của công nghệ và các phương pháp điều trị mới. Thông qua hỗ trợ của IAEA, các quốc gia trên thế giới đang thiết lập được hệ thống xạ trị quốc gia, được đào tạo về xạ trị và từng bước ứng dụng các kỹ thuật điều trị tiên tiến. IAEA hiện đang giúp các quốc gia nhằm cung cấp các dịch vụ xạ trị chất lượng cao, để mọi người dân đều có thể tiếp cận và được hưởng lợi những công cụ và phương pháp cứu sống con người tiên tiến này.

Mục tiêu của xạ trị

Mục tiêu của xạ trị nhằm tối đa hóa sự an toàn cho người bệnh khi sử dụng tia bức xạ để tiêu diệt khối u, đồng thời giảm thiểu đến mức thấp nhất tổn thương đối với các mô lành và các tổ chức quan trọng xung quanh khối u. Để thực hiện mục tiêu này, các bác sỹ trước tiên cần đánh giá chi tiết về hình dạng, kích thướckhối uvà sử dụng các công cụ chẩn đoán hình ảnh và lập kế hoạch để lập phương án điều trị tối ưu. Các bác sỹ sau đó sẽ sử dụng chùm tia bức xạ từ thiết bị xạ trị để tiêu diệt khối u một cách an toàn với liều bức xạ được tính toán một cách chính xác. Liều bức xạ lớn có thể tiêu diệt nhiều tế bào ung thư hơn nhưng cũng sẽ gây ra nhiều nguy cơ đối với các mô lành xung quanh. Do đó, việc nhắm trúng đích và sử dụng liều bức xạ chính xác là vô cùng quan trọng để đảm bảo an toàn và hiệu quả của quá trình xạ trị. Những cải tiến và tiến bộ về xạ trị hiện nay chủ yếu tập trung trong việc nâng cao độ chính xác của hai yếu tố này.

Lập kế hoạch điều trị chính xác hơn

Những tiến bộ trong chẩn đoán hình ảnh và lập kế hoạch điều trị đã giúp các bác sỹ chuyên ngành ung thư chuyển từ các kỹ thuật xạ trị 2D sang 3D thông qua các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh và dựng hình ảnh toàn diện (quá trình chụp ảnh, đánh giá khối u, xác định chính xác vị trí, hình dáng khối u, các khu vực tiếp giáp với các mô lành xunh quanh). Sự phát triển của các công cụ lập kế hoạch điều trị tự động cũng giúp các bác sỹ khai thác sức mạnh các thuật toán để xác định khối u và lên kế hoạch sử dụng liều lượng bức xạ chính xác và hướng chiếu thích hợp đối với từng phần của khối u.

Độ chính xác trong điều trị phụ thuộc nhiều vào chất lượng hình ảnh chẩn đoán và chức năng của máy xạ trị. Các thế hệ chẩn đoán hình ảnh trước đây có độ phân giải thấp nên thể hiện được ít chi tiết hơn và khả năng của công nghệ xạ trị cũng hạn chế hơn. Vì vậy, trước đây các bác sỹ thường sử dụng liều bức xạ thấp hơn cần thiết trong điều trị để giữ an toàn cho bệnh nhân, hoặc do thể trạng của người bệnh mà liệu pháp xạ trị có thể bị loại khỏi các lựa chọn điều trị. Điều này đã thay đổi với sự ra đời của các công cụ và quy trình mới như xạ trị 3 chiều dưới hướng dẫn hình ảnh. Kỹ thuật SBRT cũng cho phép điều trị chính xác cao, chiếu từ nhiều hướng và cho phép sử dụng liều cao hơn đồng thời giảm thời gian điều trị.

Tách biệt và điều trị khối u

Kỹ thuật SBRT cho phép kiểm soát quá trình điều trị và độ chính xác đạt đến mức độ rất cao so với các kỹ thuật điều trị khác. Điều đặc biệt của kỹ thuật SBRT là điều trị sử dụng hình ảnh 4 chiều (4D): chiều cao, chiều rộng, chiều sâu và chiều chuyển động (đối với một số cơ quancó tính chất chuyển động như tim, phổi) để lập kế hoạch và phát các chùm bức xạ chính xác cao vào khối u từ các góc khác nhau. Việc sử dụng nhiều chùm tia từ các hướng khác nhau giúp giảm liều bức xạ của mỗi chùm tia, giảm thiểu tác dụng phụ đối với các mô lành trên đường đi nhưng lại tạo được liều bức xạ kết hợp lớn hơn rất nhiều khi các chùm tia này hội tụ chính xác tại khối u.

Theo Ông Tarek Shouman, Trưởng Khoa Ung thư tại Viện Ung thư quốc gia Ai Cập (NCI) - người đã có trên 20 năm kinh nghiệm làm việc với IAEA, đối với một số loại ung thư không thể phẫu thuật và trước đây điều trị bằng tia xạ cũng không mang lại nhiều hiệu quả thì nay với kỹ thuật SBRT đã mở ra cơ hội sống cho các bệnh nhân mắc bệnh này. Hiện nay, ông Tarek Shouman và các đồng nghiệp tại NCI dưới sự hỗ trợ của IAEA đang sử dụng SBRT để điều trị ung thư phổi nguyên phát và ung thư đầu, cổ thứ phát và ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) - loại ung thư phổ biến nhất ở nam giới Ai Cập, ung thư gan cũng là loại ung thư gây tử vong phổ biến thứ ba trên thế giới. Trong nhiều năm, ung thư gan không thể được điều trị hiệu quả bằng xạ trị thông thường vì không thể đưa được liều bức xạ đủ lớn tới khối u vì sẽ gây tổn thương các mô gan khỏe mạnh xung quanh. Kỹ thuật SBRT đã cải tiến triệt nhược điểm này để trở thành lựa chọn điều trị hiệu quả vì có khả năng cung cấp liều bức xạ cao hơn tới các khối u gan rất nhỏ trong khi vẫn bảo toàn tối đa các mô khỏe mạnh xung quanh. Các nghiên cứu của NCI chỉ ra rằng, SBRT có thể giảm số lần điều trị HCC cũng như các loại ung thư khác như não, phổi, đầu, cổ từ khoảng 30-35 lần điều trị xuống khoảng 1-5 lần. Trong thời gian nghiên cứu kéo dài 2 năm của NCI, SBRT đạt tỷ lệ thành công từ 80-90% đối với một số bệnh ung thư.

Bùi Từ Thi Hoàng, Trung tâm Thông tin và Tư vấn hạt nhân

Google translate
Liên kết
  • Bộ Khoa học và Công nghệ
    Bộ Khoa học và Công nghệ
Thư viện ảnh
Đối tác
Media
Thống kê truy cập