Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật PET trong chẩn đoán và điều trị u lympho nguyên phát tại hệ thần kinh trung ương13:54:00 16/03/2021

U lympho nguyên phát tại hệ thần kinh trung ương thuộc nhóm ung thư ác tính hiếm gặp, diễn biến lâm sàng tiến triển nhanh, tỷ lệ biến chứng cao, dễ dẫn đến tử vong. Về mô bệnh học, trên 90% U lympho nguyên phát tại hệ thần kinh trung ương thuộc loại tế bào B lớn lan toả (sau đây gọi tắt là U lympho).

Bệnh lý này đặt ra nhiều khó khăn cho các bác sĩ lâm sàng như gây lạc hướng hay làm chậm trễ tiến trình chẩn đoán dẫn đến quyết định điều trị không phù hợp. Hiện nay, cộng hưởng từ (MRI) đang là phương pháp chẩn đoán hình ảnh hữu hiệu đối với bệnh này do có độ nhạy cao, tuy nhiên độ đặc hiệu vừa phải. Vì vậy, cần thiết phải phát triển các kỹ thuật hình ảnh phân tử mới đối với loại bệnh lý này.

Theo kết quả nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Y học hạt nhân số tháng 12/2020, chụp cắt lớp phát xạ Positron (PET) (1) sử dụng dược chất phóng xạ 68Ga-pentixafor là một kỹ thuật chẩn đoán hiệu quả đối với u lympho. Kỹ thuật PET kết hợp với 68Ga-pentixafor hướng tới việc phát hiện thụ thể chemokine C-X-C motif 4 (CXCR4) (2) đã được nghiên cứu để đánh giá sự phát triển, tồn tại và di căn của ung thư hạch bạch huyết tế bào B. Kết quả chụp hình PET cho thấy các đặc điểm tương phản rất rõ nét giữa các tổn thương ung thư hạch và mô não khỏe mạnh xung quanh, phù hợp để phân tầng nguy cơ và đánh giá khả năng đáp ứng điều trị.

Để kiểm chứng kỹ thuật này, người ta đã tiến hành nghiên cứu bệnh chứng trên 11 bệnh nhân (4 bệnh nhân chụp PET/CT và 7 bệnh nhân chụp PET/MRI), phân tích tổn thương và hóa mô miễn dịch (3). Kết quả cho thấy 7 bệnh nhân điều trị bằng PET/MRI đáp ứng với điều trị tốt hơn so với khi chỉ sử dụng phương pháp MRI.

Kết quả chụp PET sử dụng 68Ga-pentixafor đã phát hiện được các u lympho tổn thương dương tính, do tỷ lệ khối u/phông cao, độ tương phản đặc biệt rõ nét. Kết quả xét nghiệm invivo đã xác nhận rằng hóa mô miễn dịch dương tính đối với CXCR4, 9 trong số 11 bệnh nhân có sinh thiết ung thư hạch và các tổn thương ung thư hạch có CXCR4 cao. Ngoài ra, các kết quả chụp PET sử dụng 68Ga-pentixafor cho thấy giá trị bán định lượng xác định mức độ tập trung CXCR4 trong khối u hoặc tổn thương (UV) có giá trị tiên lượng đáng kể, các tổn thương u lympho có UV thấp hơn sẽ đáp ứng điều trị tốt hơn.

ThS. BS. Peter Herhaus, chuyên khoa về ung thư máu tại Trường Y khoa Technische Universität München ở Munich, Đức, lưu ý: “Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với bệnh nhân mắc U lympho, vì kỹ thuật PET sử dụng 68Ga-pentixafor phát hiện thụ thể CXCR4 không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho việc chẩn đoán và đánh giá khả năng đáp ưng điều trị mà còn đóng vai trò là chất đánh dấu sinh học để chọn lọc các bệnh nhân có tiên lượng xấu cần được điều trị tích cực. Vì vậy, các phương pháp chẩn trị kết hợp với thụ thể CXCR4 đưa kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh phân tử kết hợp với chất đánh dấu sinh học tiến xa hơn trong lĩnh vực y học hạt nhân”.


So sánh giữa kết quả xác định tổn
thương u lymphobằng MRI (bên trái) và bằng PET/MRI (bên phải).

(1) PET (Positron Emission Tomography) là kỹ thuật chụp hình phát xạ positron. Các đồng vị sử dụng cho PET được sản xuất từ máy gia tốc Cyclotron.

Nguyên lý của kỹ thuật PET: Positron va chạm với electron trong các mô tạo ra hiện tượng "positronium" trước khi xảy ra hủy cặp và sinh ra 2 photon hủy cặp theo hướng ngược nhau 180o. Photon hủy cặp phát ra từ bệnh nhận được ghi nhận bởi đầu dò. Đầu dò được bố trí quanh máy PET chỉ ghi nhận các photon đến đồng thời 2 đầu dò trong một khoảng thời gian gọi là thời gian “trùng phùng”. Tín hiệu ghi nhận được sẽ được lưu trong kho dữ liệu ma trận sinigram ứng với gốc và khoảng cách các LOR trong trường FOV (Field of View). Ma trận này sau đó được xử lý và tái tạo thành hình ảnh. Các bức xạ positron phát ra từ hạt nhân tồn tại rất ngắn, chúng gần như lập tức kết hợp với điện tử tự do, chuyển thành 2 photon có năng lượng 511 keV đi theo 2 hướng ngược nhau trên cùng một trục với điểm xuất phát. Trong xạ hình PET, các photon phát ra từ sự hủy cặp của positron và electron, đơn năng (511keV) hình ảnh của PET sẽ rõ nét hơn so với hình ảnh ghi nhận bằng SPECT.

Xạ hình PET được ứng dụng trong: Chẩn đoán khối u; Chẩn đoán bệnh hệ thần kinh; Chẩn đoán bệnh sa sút trí tuệ; Chẩn đoán bệnh Alzheimer; Chẩn đoán bệnh Parkinson; Chẩn đoán bệnh suy giảm trí nhớ; Đánh giá sự sống còn của cơ tim; Mô phỏng xạ trị 3D; Mô phỏng xạ trị điều biến liều (IMRT); Chuẩn đoán ung thư vú, đại-trực tràng, thực quản, đầu-cổ, phổi, tuyến giáp, cổ tử cung, hắc-tô; Xạ hình bệnh hạch ác tính; Xạ hình thiếu máu cơ tim cục bộ; Xạ hình đánh giá cơ tim.

(2) Thụ thể chemokine C-X-C motif 4 (CXCR4) là một dấu hiệu tiên lượng các loại ung thư khác nhau, liên quan đến quá trình hóa trị liệu, đánh giá sự phát triển của tế bào gốc đáp ứng điều trị.

(3) Hoá mô miễn dịch là một phương pháp nhuộm đặc biệt hỗ trợ trong chẩn đoán mô bệnh học. Hoá mô miễn dịch là kết quả của phản ứng miễn dịch  trên mô bệnh học , trong đó sử dụng các chất nhuộm có sẵn (kháng thể) để xác định dấu ấn tế bào u (kháng nguyên) bằng phương pháp kết hợp kháng nguyên – kháng thể đặc hiệu.

Chu Minh Dương - Phòng Quản lý khoa học và công nghệ hạt nhân (biên dịch)

Nguồn: https://www.snmmi.org